Kinh tế Việt Nam quý 1 và dự báo cả năm 2024

0
27

TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá kinh tế Việt Nam trong quý 1 có nhiều điểm sáng nhưng vẫn còn một số thách thức, khó khăn, tăng trưởng GDP quý 2 sẽ tiếp tục khả quan, có thể đạt 5,9-6,3%, giúp GDP nửa đầu năm 2024 tăng 5,8-6,2% và cả năm 2024 có thể tăng 6-6,5% (kịch bản cơ sở). Nhóm chuyên gia đồng thời đưa ra một số khuyến nghị để giúp nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng.
LTS: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV vừa công bố báo cáo đánh giá về Kinh tế Việt Nam quý 1 và dự báo cả năm 2024. Chúng tôi xin đăng nguyên văn báo cáo để quý độc giả tiện theo dõi.
Bối cảnh kinh tế thế giới quý 1/2024

Trong quý 1/2024, kinh tế thế giới (KTTG) phục hồi chậm, không đồng đều nhưng đan xen một số tín hiệu tích cực: (i) các hoạt động sản xuất, dịch vụ đã dần phục hồi đồng đều hơn khi chỉ số PMI tổng hợp toàn cầu trong 2 tháng đầu năm nay lần lượt đạt 51,8 và 52,1 điểm (tăng 5 tháng liên tiếp); (ii) tại Mỹ, Trung Quốc và một số nền kinh tế lớn khác, xu hướng tích cực của các hoạt động kinh tế từ cuối năm 2023 được duy trì; (iii) giá cả hàng hóa, lương thực, năng lượng được duy trì ổn định góp phần giúp lạm phát hạ nhiệt và tiến dần về mức mục tiêu; (iv) tỷ lệ thất nghiệp của nhiều nước ở mức toàn dụng lao động. Tín hiệu tích cực trên là cơ sở để NHTW các nước điều chỉnh chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng, giảm lãi suất hỗ trợ phục hồi kinh tế thời gian tới.

Tuy nhiên, đà hồi phục của KTTG gặp nhiều khó khăn, thách thức bởi xung đột địa chính trị dai dằng (tại Ukraina, khu vực dải Gaza, Biển Đỏ…); cạnh tranh thương mại – công nghệ có dấu hiệu gia tăng trở lại, bảo hộ thương mại tăng, sự phân mảnh của kinh tế toàn cầu; lạm phát giảm nhưng cả lạm phát và lãi suất còn ở mức cao; biến đổi khí hậu khó lường hơn…v.v.

Về triển vọng cả năm 2024, các tổ chức quốc tế (WB, IMF, OECD, UNCTAD…) đánh giá kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, rủi ro khi các nền kinh tế lớn phục hồi chậm, thậm chí một số nền kinh tế có thể giảm tốc độ tăng trưởng (như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản…); niềm tin của người tiêu dùng, nhà đầu tư ở mức thấp; xung đột vũ trang kéo dài, nguy cơ khủng bố gia tăng. Các báo cáo cập nhật dự báo: (i) KTTG tăng trưởng 2,4-3,1%, thấp hơn khoảng 0,2-0,3 điểm % so với năm 2023; (ii) lạm phát (CPI) hạ nhiệt đáng kể, xuống mức khoảng 3,5-4% (từ mức 5,7% năm 2023) và nhiều nước sẽ nới lỏng tiền tệ trong năm nay; (iii) hoạt động thương mại quốc tế và đầu tư FDI toàn cầu dự báo phục hồi (tăng lần lượt 2,3% và 2,4-3% so với năm 2023).
Bức tranh kinh tế Việt Nam quý 1/2024

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, phục hồi chậm, dự báo tăng trưởng thấp hơn năm 2023, kinh tế Việt Nam trong quý 1/2024 vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực, ghi nhận 8 điểm sáng sau:

Một là, Quốc Hội, Chính phủ đẩy nhanh hoàn thiện thể chế; quyết liệt giải quyết những vướng mắc, điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng. Trong quý 1, Quốc Hội họp bất thường thông qua Luật đất đai 2024 và Luật các TCTD 2024 cùng một số đạo luật, nghị quyết quan trọng khác. Chính phủ đã sớm ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 5/1/2024 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH, dự toán NSNN 2024 và Nghị quyết 02 ngày 05/01/2024 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, với ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo các cân đối lớn.

Về hoàn thiện thể chế, Chính phủ chỉ đạo xây dựng và ban hành các Nghị định, Thông tư và văn bản hướng dẫn thi hành các Luật và Nghị quyết quan trọng đã được Quốc hội thông qua như Luật Đất đai 2024, Luật nhà ở 2023, Luật Kinh doanh BĐS 2023, Luật các TCTD 2024…/. Đồng thời, Quốc hội dự kiến xem xét, thông qua 8 dự án Luật tại kỳ họp lần thứ 7 (vào tháng 5/2024), trong đó có một số quan trọng như Luật BHXH, Luật Thủ đô, Luật Đường bộ, Luật Tổ chức tòa án nhân dân…v.v.

Về chính sách tiền tệ, Thủ tướng Chính phủ đã ký Công điện số 18/CĐ-TTg ngày 5/3/2024 về điều hành tăng trưởng tín dụng năm 2024 và chủ trì Hội nghị triển khai nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ năm 2024 (ngày 14/3) nhằm định hướng triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, đúng, trúng mục tiêu; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế; kiểm soát tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất cho vay…v.v. NHNN cũng đã sớm cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng 15% cả năm 2024, đẩy mạnh phát hành tín phiếu nhằm can thiệp thị trường liên ngân hàng, bình ổn tỷ giá…v.v.

Đối với đầu tư công và thị trường bất động sản (BĐS), Chính phủ có nhiều chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giao vốn và giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm 2024, cùng với các chính sách, giải pháp phục hồi và phát triển thị trường BĐS, nhà ở xã hội hiệu quả và lành mạnh hơn. Đối với thị trường chứng khoán (TTCK), Thủ tướng đã chủ trì Hội nghị triển khai nhiệm vụ phát triển TTCK năm 2024, trong đó nhấn mạnh quyết tâm nâng hạng TTCK Việt Nam từ cận biên lên mới nổi trong năm 2025. Với thị trường vàng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 15/2/2024 và Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 20/3/2024 yêu cầu NHNN phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai giải pháp nhằm ổn định và phát triển thị trường vàng lành mạnh; rà soát, hoàn thiện quy định quản lý thị trường vàng (sửa Nghị định 24/2012).

Hoạt động đối ngoại, ngoại giao kinh tế tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh. Tiếp theo nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với với Hoa Kỳ và Nhật Bản trong năm 2023, ngày 7/3/2024, Việt Nam và Úc đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, Úc là quốc gia thứ 7 có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam; tạo cơ hội thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch thời gian tới.

Hai là, GDP quý 1 tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm, đạt 5,66%, cao hơn mức đưa ra trong Nghị quyết 01. Các động lực tăng trưởng truyền thống như xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng đều tăng tích cực, trong đó xuất khẩu tăng 17%, cán cân thương mại thặng dư hơn 8 tỷ USD, đầu tư tăng 4,7%, tiêu dùng cuối cùng tăng 4,93%…v.v. Về phía cung, khu vực nông – lâm – ngư nghiệp tăng gần 3% (tiếp tục là bệ đỡ của nền kinh tế); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,28% (trong đó công nghiệp chế biến – chế tạo tăng gần 7%); dịch vụ tăng 6,12%…v.v. Các mức này đã tương đương 90% trước dịch và là kết quả tích cực, đáng ghi nhận, trong bối cảnh kinh tế thế giới giảm đà tăng trưởng.

Ba là, xem xét cụ thể một số động lực tăng trưởng truyền thống cho thấy đà phục hồi khá đồng đều. Tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu (XNK) quý I/2024 đạt 178 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu đạt 93,06 tỷ USD, tăng 17%, nhập khẩu đạt 84,98 tỷ USD, tăng 13,9% nhờ lực cầu phục hồi, nhất là tại các đối tác lớn của Việt Nam (như Mỹ, EU, ASEAN, Hàn Quốc…). Theo đó, cán cân thương mại tiếp tục thặng dư 8,08 tỷ USD, gấp 1,65 lần cùng kỳ năm 2023, góp phần ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối.

Thu hút và giải ngân vốn FDI tiếp tục tăng trưởng tích cực. Thu hút vốn FDI tăng trưởng tích cực trong bối cảnh Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ với nhiều đối tác lớn và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn diễn ra. Lũy kế đến ngày 20/03/2024, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam ước đạt 6,17 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ. Giải ngân vốn FDI cũng đạt kết quả khả quan trong bối cảnh dòng vốn FDI quốc tế phục hồi chậm; đạt 4,63 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước, là mức giải ngân cao nhất cùng kỳ giai đoạn 2017-2024; khẳng định niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào triển vọng kinh tế Việt Nam cùng với xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn diễn ra.

Tiêu dùng tiếp tục đà phục hồi, du lịch tăng mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý 1/2024 tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh thu dịch vụ lữ hành ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong 4 cấu phần bán lẻ và cao nhất trong vòng 5 năm (+46,3%), khi lượng khách quốc tế tăng mạnh (tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2019 – năm trước dịch) nhờ chính sách miễn thị thực và các chính sách kích cầu du lịch.

Giải ngân vốn đầu tư công được thúc đẩy và cải thiện rõ rệt. Tổng số vốn giải ngân trong quý I/2024 đạt 97,75 nghìn tỷ đồng, bằng 13,9% kế hoạch năm và tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, mức tăng còn thấp và nhiều bộ, ngành, địa Phương chưa phân bổ hết vốn đầu tư hoặc có tỷ lệ giải ngân rất thấp. Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 24/CĐ-TTg ngày 22/3/2024 về đẩy nhanh tiến độ phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công năm 2024.

Sản xuất công nghiệp (SXCN) tiếp tục phục hồi. Chỉ số SXCN (IIP) trong Q1/2024 tăng 5,67% (so với mức giảm -2,25% của cùng kỳ năm 2023) cho thấy sản xuất công nghiệp (nhất là phục vụ xuất khẩu) đang phục hồi tích cực. Tuy nhiên, chỉ số PMI tháng 3/2024 giảm nhẹ xuống 49,9 điểm sau 2 tháng ở mức mở rộng (PMI tháng 1 và 2 lần lượt đạt 50,3 điểm và 50,4 điểm) cho thấy đà phục hồi của SXCN chưa bền vững khi cầu tiêu dùng thế giới phục hồi chậm cải thiện, chi phí đầu vào tăng…v.v.

Bốn là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát (dù giá xăng dầu, chi phí vận tải tăng do xung đột Biển Đỏ leo thang…). CPI bình quân QI/2024 tăng 3,77% và lạm phát cơ bản bình quân QI/2024 tăng 2,81% so với cùng kỳ, thấp hơn so với mức 2,84% của 2 tháng đầu năm nhờ đà giảm giá của nhiều nguyên vật liệu đầu vào và cung tiền tăng chậm (tín dụng chỉ tăng 0,26% trong quý 1/2024).

Năm là, mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm, góp phần hỗ trợ người dân, DN và tăng trưởng kinh tế; tín dụng đang tăng trở lại (riêng tháng 3, tín dụng tăng gần 1%, từ mức âm -0,72% cuối tháng 2 lên mức tăng khoảng 0,3% đến nay); thị trường chứng khoán tăng trưởng tích cực, ngày càng phản ánh sát hơn tình hình nền kinh tế và sức khỏe của DN; thị trường trái phiếu DN, bất động sản đang có dấu hiệu phục hồi.

Sáu là, thu NSNN tăng khá cùng với đà phục hồi của sản xuất, tiêu dùng. Thu NSNN trong quý 1 đạt gần 540 nghìn tỷ đồng, bằng 31,7% dự toán năm, tăng 9,8%; chi NSNN tăng 8,3% so với cùng kỳ, NSNN thặng dư 146 nghìn tỷ đồng, tiếp tục tạo dư địa chính sách tài khóa hỗ trợ người dân, DN. Rủi ro tài khóa ở mức trung bình với mức nợ công tương đương 38% GDP, nợ nước ngoài 34% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 23-24% thu NSNN (theo Bộ Tài chính) đều dưới ngưỡng Quốc Hội cho phép; an ninh lương thực và an ninh năng lượng được duy trì, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định vĩ mô.

Bảy là, công tác quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng hiện đại tiếp tục được quan tâm thúc đẩy. Nhiều địa phương đã công bố Quy hoạch phát triển KTXH đến năm 2030, tầm nhìn 2050; Kế hoạch triển khai Quy hoạch điện VIII cũng đã được ban hành, tạo điều kiện bắt tay triển khai thực hiện thời gian tới.

Tám là, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Đặc biệt, đầu tháng 3 vừa qua, Việt Nam và Úc đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, Úc là quốc gia thứ 7 có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam; tạo cơ hội thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch, KHCN và nhiều lĩnh vực khác trong thời gian tới.

Kinh tế Việt Nam quý 1 và dự báo cả năm 2024- Ảnh 2.Thu NSNN quý 1 tăng khá cùng với đà phục hồi của sản xuất, tiêu dùng

Sáu rủi ro, thách thức chính

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với 6 rủi ro, thách thức chính.

Một là, rủi ro, thách thức từ bên ngoài vẫn hiện hữu như bối cảnh quốc tế đã nêu trên. Đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại, sức cầu phục hồi nhưng còn yếu, rủi ro – bất định ở mức cao, đều có ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng và du lịch của Việt Nam.

Hai là, cơ cấu lại nền kinh tế, giải ngân một số cấu phần của 3 chương trình mục tiêu quốc gia còn chậm. Tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn DNNN còn chậm so với kế hoạch; cơ cấu lại, xử lý dứt điểm các TCTD yếu kém còn chậm so với yêu cầu. Điều này khiến việc phân bổ nguồn lực khó đạt hiệu quả cao và chi phí tốn kém, đòi hỏi quyết liệt hơn thời gian tới. Bên cạnh đó, tỷ lệ giải ngân 3 chương trình mục tiêu quốc gia trong 2 tháng đầu năm 2024 mới đạt 12% kế hoạch năm, dù cao hơn so với cùng kỳ năm 2023 (5,64%) song nhiều dự án, tiểu dự án vẫn chưa được triển khai.

Ba là, một số động lực tăng trưởng truyền thống (như đầu tư tư nhân, tiêu dùng) phục hồi chậm và còn yếu trong khi thể chế cho các động lực tăng trưởng mới chậm ban hành. Mức tăng của lĩnh vực dịch vụ trong Q1/2024 (+6,12%) thấp hơn cùng kỳ năm trước (6,86%) và mức trước dịch (6,5% của Q1/2019). Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ (8,2%) thấp hơn khá nhiều mức tăng 13,9% của cùng kỳ năm 2023 và mức tăng 12,6% của cùng kỳ năm 2019, do tâm lý tiêu dùng thận trọng khi hoạt động sản xuất, kinh doanh còn khó khăn. Vốn đầu tư tư nhân chiếm tỷ trọng cao nhất (56%) trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng tốc độ tăng trong Q1/2024 chỉ đạt 4,2%, thấp nhất trong 3 khu vực kinh tế (vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước tăng 4,9%, vốn FDI tăng 8,9%), và thấp hơn nhiều so với mức tăng 8-9% trong giai đoạn 2016-2019.

Đồng thời, thể chế cho kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng (đặc biệt là cơ chế thử nghiệm sandbox; quy định về quản lý và chia sẻ dữ liệu, phát triển thị trường tín chỉ carbon Việt Nam…) còn chậm; chưa phát huy được nhiều từ những xu hướng, động lực tăng trưởng mới này.

Bốn là, doanh nghiệp (DN) còn đối mặt với nhiều khó khăn. Trong Q1/2024, mặc dù có nhiều dấu hiệu khởi sắc hơn như phân tích ở trên, nhưng hoạt động của khối DN nhìn chung vẫn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu do các vướng mắc về pháp lý (đặc biệt là thị trường đất đai, BĐS) cần thời gian để giải quyết; áp lực tài chính (áp lực đáo hạn nợ vay và nợ trái phiếu DN); chi phí đầu vào vẫn ở mức cao (chi phí logistics tăng, giá năng lượng tăng…). Kết quả là, số lượng DN gia nhập thị trường (gần 60 nghìn DN) thấp hơn số lượng 74 nghìn DN rút lui khỏi thị trường.

Năm là, tín dụng tăng chậm, nợ xấu và tỷ giá tăng nhưng trong tầm kiểm soát. Hết quý 1/2024, tín dụng ước tăng 0,3% so với đầu năm, thấp hơn mức tăng 2,58% của Quý 1/2023 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế vẫn còn nhiều khó khăn, nhu cầu và khả năng hấp thụ vốn còn yếu, nợ xấu tăng khiến khả năng đáp ứng điều kiện tín dụng khó hơn, trong khi các TCTD thận trọng hơn, mặc dù lãi suất cho vay giảm. Trong bối cảnh đó, nợ xấu tăng. Theo NHNN, tính đến cuối tháng 12/2023, tỷ lệ nợ xấu gộp (bao gồm nợ xấu nội bảng, nợ bán VAMC chưa xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) là trên 6%, nếu loại trừ nợ xấu của các ngân hàng kiểm soát đặc biệt thì sẽ là 3,36%, cho thấy nợ xấu của hệ thống gia tăng, tuy nhiên trong tầm kiểm soát (một phần là năng lực trang trải nợ xấu và quản lý rủi ro của hệ thống các TCTD cơ bản tốt hơn nhiều so với giai đoạn nợ xấu cao như những năm 2011-2014).

Về tỷ giá, trong quý 1/2024, tỷ giá liên ngân hàng tăng 2,12% và tỷ giá trung tâm tăng 0,57% so với cuối năm 2023, chủ yếu là do: (i) đồng USD tăng giá trên thị trường quốc tế (chỉ số DXY tăng 3% so với cuối năm 2023); (ii) chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn duy trì ở mức âm, kích thích các hoạt động đầu cơ tỷ giá; (iii) nhu cầu thanh toán ngoại tệ tăng lên cùng với đà tăng của nhập khẩu và yếu tố thời vụ khi một số DN FDI chuyển lợi nhuận về nước. Dự báo, áp lực tỷ giá vẫn còn nhưng sẽ giảm dần và ổn định hơn với lộ trình FED giảm lãi suất rõ nét hơn và yếu tố thời vụ qua đi cùng với biện pháp điều hành tỷ giá linh hoạt của NHNN.

Sáu là, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và thị trường BĐS phục hồi chậm. Theo FiinRatings, giá trị TPDN phát hành trong quý 1/2024 đạt 18,75 nghìn tỷ đồng, giảm 36% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, TPDN đáo hạn năm 2024 ước tính khoảng 239.000 tỷ đồng (trong đó DN BĐS chiếm khoảng 42%) cho thấy thị trường vẫn còn nhiều khó khăn và cần thời gian để hồi phục. Tuy vậy, triển vọng TPDN năm 2024 dự báo sẽ sôi động hơn trong thời gian tới nhờ kinh tế vĩ mô chuyển biến tích cực hơn, thị trường dần thích ứng với quy định mới của Nghị định 65 (2022) sửa đổi để phát triển lành mạnh, bền vững hơn trong dài hạn và niềm tin đang dần phục hồi.

Thị trường BĐS phục hồi còn chậm, vẫn đang gặp phải 4 vấn đề thách thức lớn (về pháp lý, quy hoạch và quỹ đất, quan hệ cung – cầu và giá BĐS còn cao, nghĩa vụ tài chính của DN BĐS còn lớn) và cần thời gian để phục hồi. Tuy nhiên, thị trường đang dần phục hồi khi lượng giao dịch và tỷ lệ hấp thụ tăng, pháp lý dần được tháo gỡ, nhất là một số vướng mắc về định giá đất, về hoạt động lấn biển và việc hướng dẫn triển khai Luật đất đai 2024, Luật Nhà ở 2023 và Luật Kinh doanh BĐS 2023 được quan tâm thực hiện. Dự báo thị trường BĐS sẽ phục hồi rõ nét hơn từ cuối quý 2/2024.

Kinh tế Việt Nam quý 1 và dự báo cả năm 2024- Ảnh 3.

Áp lực tỷ giá vẫn còn nhưng sẽ giảm dần

Dự báo kinh tế Việt Nam quý 2 và cả năm 2024

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại nhưng lạm phát và lãi suất giảm, cùng với đà phục hồi nội tại và các nỗ lực cải thiện thể chế, môi trường đầu tư – kinh doanh của Quốc Hội, Chính phủ, kinh tế Việt Nam trong quý 2 và cả năm 2024, dự báo tăng trưởng cao hơn trong khi lạm phát được kiểm soát trong mục tiêu. Cụ thể:

– Về tăng trưởng GDP: với kết quả tăng trưởng khá của quý 1, các yếu tố rủi ro bên ngoài được dự báo và trong tầm kiểm soát; các động lực tăng trưởng (cả truyền thống và mới) được khai thác, phát huy hiệu quả cao hơn; kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, niềm tin của DN và người dân được củng cố…; tăng trưởng GDP quý 2 sẽ tiếp tục khả quan, có thể đạt 5,9-6,3%, giúp GDP nửa đầu năm 2024 tăng 5,8-6,2% và cả năm 2024 có thể tăng 6-6,5% (theo kịch bản cơ sở) đạt mục tiêu do Quốc hội và Chính phủ đề ra hoặc có thể khả quan hơn, khoảng 6,5-7% (kịch bản tích cực).

– Lạm phát: áp lực lạm phát năm 2024 dự báo sẽ ở mức cao hơn năm 2023 do yếu tố chi phí đẩy (trong đó, theo ước tính sơ bộ của Nhóm Nghiên cứu, lương tối thiểu vùng tăng 6% từ 1/7/2024 sẽ khiến CPI năm 2024 tăng thêm khoảng 0,03 điểm %) và cả yếu tố cầu kéo (cung tiền và vòng quay tiền dự báo tăng cao hơn năm 2023 cùng với đà phục hồi của nền kinh tế). Tuy nhiên, lạm phát năm 2024 sẽ vẫn trong tầm kiểm soát và không đáng quan ngại (CPI bình quân tăng khoảng 3,4-3,8% theo kịch bản cơ sở) nhờ tác động cộng hưởng của các yếu tố hỗ trợ kiềm chế lạm phát (giá cả và lạm phát toàn cầu đang hạ nhiệt, giá dầu dự báo ở mức tương đương hoặc chỉ tăng nhẹ so với năm 2023, cung tiền tăng song vòng quay tiền còn chậm, dự báo khoảng 0,7-0,9 lần, tỷ giá sẽ ổn định hơn và phối hợp chính sách ngày càng tốt hơn).

Sáu kiến nghị

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô năm 2024 như nêu trên, Nhóm Nghiên cứu có 6 kiến nghị như sau:

Một là, các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục nghiêm túc thực hiện Nghị quyết 01 và 02/NQ-CP ngày 5/1/2024; các chỉ thị, nghị quyết, nghị định gần đây của Quốc Hội, Chính phủ như nêu trên; tiếp tục bám sát, chủ động phân tích, dự báo diễn biến thị trường tài chính – tiền tệ quốc tế, diễn biến giá dầu thế giới để có kịch bản ứng phó phù hợp; bao gồm cả đối với những rủi ro gia tăng như rủi ro công nghệ cao, an ninh mạng, lừa đảo…; tăng cường bình ổn, lành mạnh hóa thị trường tài chính, BĐS, TPDN nhằm củng cố niềm tin nhà đầu tư và người dân.

Hai là, đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung vào: (i) kịp thời ban hành và thực thi hiệu quả hơn các chính sách, giải pháp tháo gỡ các vướng mắc (nhất là về pháp lý, định giá đất, hoàn thuế GTGT, tiếp cận vốn, phát triển nhà ở xã hội…); (ii) sớm ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn đảm bảo nhất quán, đồng bộ các Luật đã được Quốc hội thông qua như Luật Đất đai 2024, Luật Nhà ở 2023, Luật kinh doanh BĐS 2023, Luật các TCTD 2024, cùng với các luật liên quan khác nhằm khắc phục chồng chéo, vướng mắc, đảm bảo hiệu lực thực thi; (iii) sớm ban hành thể chế, khung pháp lý nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi năng lượng…v.v.

Ba là, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tập trung vào phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống (xuất khẩu, đầu tư – nhất là đầu tư tư nhân, tiêu dùng); khai thác tốt hơn các động lực tăng trưởng mới và cũng là xu thế tất yếu toàn cầu (kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, liên kết vùng; theo đó, các cơ chế thử nghiệm – Sandbox, cơ chế thí điểm, đề án phát triển thị trường tín chỉ carbon, Kế hoạch triển khai Quy hoạch điện VIII, cơ chế hỗ trợ các DN FDI khi Việt Nam áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu…, cần sớm được ban hành và thực thi; thúc đẩy tăng trưởng của các đầu tàu kinh tế như Hà Nội, TP. HCM và Đà Nẵng (đóng góp 32% GDP toàn quốc năm 2023) nhằm tăng tính lan tỏa, cộng sinh.

Bốn là, nâng cao hiệu quả trong điều hành, phối hợp chính sách (đặc biệt là giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác) nhằm thúc đẩy tăng trưởng, ổn định vĩ mô, bình ổn tỷ giá, thị trường tài chính – tiền tệ, đảm bảo an sinh xã hội. Theo đó, chính sách tài khóa giữ vai trò chủ lực, mở rộng có trọng tâm, trọng điểm, gắn với đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và các chính sách miễn, giãn, hoãn thuế phí tương tự như năm 2023; chính sách tiền tệ đóng vai trò hỗ trợ, theo hướng chủ động, linh hoạt, tăng khả năng tiếp cận tín dụng gắn với kiểm soát rủi ro và xử lý nợ xấu; chú trọng kiểm soát rủi ro hệ thống (liên thông giữa ngân hàng – chứng khoán – bảo hiểm – BĐS). Đồng thời, các thông tư về cho vay, đầu tư TPDN và về cơ cấu lại nợ nên được sớm sửa đổi, góp phần tháo gỡ vướng mắc và tăng tính chủ động cho các TCTD và bên vay.

Năm là, đẩy mạnh triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia và giải ngân đầu tư công, nhất là đối với các dự án trọng điểm, có tính lan tỏa cao, đầu tư cơ sở hạ tầng; kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong triển khai; chú trọng cơ cấu lại nền kinh tế nhằm thu hút và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, nhất là các dự án, các TCTD yếu kém nhằm giảm rủi ro, chi phí, tăng tính lành mạnh và hiệu quả của thị trường.

Cuối cùng, tập trung phục hồi và phát triển lành mạnh, bền vững thị trường TPDN, BĐS và thị trường vàng, theo hướng: (i) đẩy nhanh tháo gỡ vướng mắc (nhất là về pháp lý, quỹ đất, định giá đất, giải phóng mặt bằng..) đối với các dự án BĐS nhằm giải phóng nguồn lực; (ii) tiếp tục hoàn thiện thể chế liên quan đến thị trường TPDN, BĐS như sớm ban hành Nghị định, Thông tư hướng dẫn các luật quan trọng nêu trên; sớm ban hành sửa đổi Nghị định 65/2022/NĐ-CP; (iii) thực hiện hiệu quả Quyết định 1726/QĐ-TTg ngày 29/12/2023 phê duyệt Chiến lược phát triển TTCK đến năm 2030, trong đó quyết tâm nâng hạng TTCK trong năm 2025, tăng cường kiểm soát rủi ro an ninh mạng, an toàn thông tin – dữ liệu; (iv) quyết liệt triển khai các chính sách, giải pháp phục hồi và phát triển thị trường BĐS nêu tại Nghị quyết 33/2023/NQ-CP và các nghị định, nghị quyết và chỉ thị liên quan, trong đó sớm nghiên cứu thành lập Quỹ phát triển nhà ở xã hội vừa là để góp phần phục hồi thị trường BĐS, vừa đảm bảo tính bền vững, hấp dẫn và khả thi của nguồn vốn dài hạn này; và (v) sớm sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý thị trường vàng nhằm giúp thị trường này phát triển ổn định hơn, giá vàng sát hơn giá quốc tế và vẫn đảm bảo mục tiêu giảm vàng hóa trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thiết thực của người dân về vàng trang sức – mỹ nghệ…v.v.

H. Kim (ghi theo báo cáo của Nhóm tác giả)